Bài 13: Vợ nhặt

Bài 13: Vợ nhặt

Câu 1 Trình bày những hiểu biết của anh(chị) về tác giả Kim Lân?

­ Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài ( 1920 – 2007) . Quê ở làng Phù Lưu – xã Tân Hồng – huyện Từ Sơn – tỉnh Bắc Ninh. Hoàn cảnh gia đình khó khăn nên Kim Lân chỉ học hết bậc Tiểu học.

­ Từ năm 1944 , Kim Lân tham gia hội Văn hóa cứu quốc, sau đó liên tục hoạt động văn học nghệ thuật phục vụ kháng chiến và cách mạng. Và trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của nền văn xuôi cách mạng VN.

­ Kim Lân là cây bút chuyên viết truyện ngắn , tuy không nhiều nhưng để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc đối với tác phẩm của ông. Đề tài quen thuộc của nhà văn là cuộc sống nông thôn và người nông dân:

+ Nhà văn hướng tới khám phá vẻ đẹp khoẻ khoắn , đôn hậu, chất phác trong tâm hồn họ và những phong tục chốn thôn quê, những thú “phong lưu”đồng ruộng:chọi gà, thả diều, nuôi chim… Ông được mệnh danh là nhà văn của “ những thuần hậu nguyên thuỷ”

­ Các tác phẩm chính: “ nên vợ nên chồng” ( tập truyện 1955), “ con chó xấu xí” ( tập truyện 1962)

­ Năm 2001, ông được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Câu 2 Nêu xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác truyện Vợ nhặt?

­ “ Vợ nhặt” là truyện ngắn thành công nhất của Kim Lân, được hoàn thành năm 1954, in trong tập “ Con chó xấu xí” ( 1962). Bối cảnh nhà văn lựa chọn để dựng truyện là nạn đói khủng khiếp năm 1945.

­ Tiền thân của truyện ngắn “ Vợ nhặt” là tiểu thuyết “ Xóm ngụ cư”. Cuốn tiểu thuyết này được viết ngay sau CMT8 thành công nhưng còn dở dang và bị mất bản thảo. Hoà bình lập lại ( 1954), dựa trên một phần cốt truyện cũ, “ Vợ nhặt” ra đời.

Câu 3 Nêu ý nghĩa nhan đề truyện ngắn Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân

­ “ Vợ nhặt” là một kết hợp từ rất đặc biệt. Nói như Kim Lân: “nhặt tức là nhặt nhạnh, nhặt vu vơ. Trong cảnh đói năm 1945 người dân lao động dường như khó ai thoát khỏi cái chết. Bóng tối của nó phủ xuống mọi xóm làng. Trong hoàn cảnh ấy giá trị một con người thật vô cùng rẻ

rúng. Người ta có thể có vợ theo chỉ nhờ mấy bát bánh đúc ngoài chợ ­ đúng là nhặt được vợ như tôi nói trong truyện”

­> Nhặt trong “ vợ nhặt” là động từ. Một kết hợp từ đặc biệt chỉ có trong bối cảnh năm 1945 kinh hoàng ấy. Cái đói đã đẩy đến cảnh bi hài kịch: mạng người trở nên rẻ rúng, có thể nhặt được như nhặt bất cứ một thứ đồ vật gì ( như nhặt cọng rơm, cọng rác…)

­> Tình cảnh thê thảm, tủi nhục của người nông dân trong hoàn cảnh nạn đói năm 1945.

=> Nhan đề thể hiện tình cảm rưng rưng xúc động của nhà văn khi nghĩ về thân phận con người trong bối cảnh nạn đói.

Câu 4:Tóm tắt và nêu chủ đề truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân?

Câu chuyện la` bức tranh hiện thực ở xóm ngụ cư trong cảnh nạn đói thê thảm năm ất Dậu. Người chết như ngả rạ. Những gia đình từ Nam Định, Thái Bình họ bồng bế dắt díu nhau xanh xám như những bóng ma. Không khí vẩn lên mùi gây gây của xác người.

Nhân vật chính là anh nông dân nghèo tên là Tràng, sống ở xóm ngụ cư, xấu xí, thô kệch, tưởng là ế vợ lại nhặt được vợ giữa lúc nạn đói khủng khiếp.

Ban đầu Tràng gặp người phụ nữ chỉ là chuyện tầm phào. Sau vài lần gặp gỡ và mấy lời tỏ tình thô kệch, Tràng quyết định nhặt người phụ nữ về làm vợ. Người phụ nữ đó vừa nghèo, xấu xí, trơ trẽn, liều lĩnh. Vì đói thị phải theo Tràng về.

Tràng đưa người phụ nữ về nhà vào một buổi chiều gây sự ngạc nhiên cho mọi người. Cả xóm ngụ cư bàn tán xôn xao. Tràng lúng túng ngượng nghịu, có cảm xúc mới lạ. Người phụ nữ e thẹn, tội nghiệp.

Về đến nhà, mẹ Tràng vừa đi chợ về. Tràng giới thiệu vợ mình với mẹ khiến bà rất ngạc nhiên. Khi hiểu ra con mình có vợ, tâm trạng bà bộn bề. Bà buồn và lo lắng vì con mình nhặt được vợ giữa lúc đói không biết có nuôi nhau sống nổi qua cơn đói này không. Bà tủi thân tủi phận vì trách nhiệm chưa tròn. Bà thương con trai và thương cả con dâu. Bà động viên con, nói chuyện tương lai, chuẩn bị bữa ăn sáng.

Sáng hôm sau, khi tỉnh dậy, Tràng thấy không khí mới mẻ, nhà cửa gọn gàng ngăn nắp. Tràng thấy thương yêu gắn bó với ngôi nhà, thấy bổn phận với người thân. Vợ Tràng không còn vẻ xấc xược như hôm gặp Tràng ở trên tỉnh. Tràng nhận thấy rõ ràng là người đàn bà hiền

hậu, dịu dàng, chu đáo.

Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu bằng chè cám. Vừa ăn vừa nói chuyện: ở Thái Nguyên người ta phá kho thóc của Nhật. Tràng nghĩ tới lá cờ đỏ thắm bay phấp phới.

This entry was posted in Uncategorized. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s